Các đại học quốc gia và đại học vùng có thứ hạng cao trong bảng xếp hạng. Ba trong tổng số 5 trường top đầu là các đại học quốc gia và vùng ở trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước là Đại học Quốc gia Hà Nội (đứng số 1), Đại học Đà Nẵng (thứ 4) và Đại học Quốc gia TPHCM (số 5). Hai đại học vùng còn lại là Đại học Huế và Đại học Thái Nguyên đều thuộc top trên của bảng xếp hạng (thứ tự là 8 và 17). Các cơ sở giáo dục đại học này từ lâu được biết đến không chỉ bởi quy mô đào tạo và đội ngũ cán bộ có trình độ, mà còn bởi những đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu khoa học.

Sự góp mặt trong Top 10 trường hàng đầu không thể thiếu các đại học lớn khác là Học viện Nông nghiệp (thứ 3), Đại học Cần Thơ (thứ 6), Đại học Bách khoa Hà Nội (thứ 7) và Đại học Sư phạm Hà Nội (thứ 10). So với các đại học quốc gia và đại học vùng ở trên, các cơ sở giáo dục đại học này cũng có quy mô đào tạo khá lớn, đội ngũ cán bộ đông đảo và nhiều nghiên cứu khoa học có chất lượng.

Điều gây ngạc nhiên là một số trường đại học trẻ, ít được biết đến hơn lại chiếm lĩnh vị trí cao trong bảng xếp hạng. Trường Đại học Tôn Đức Thắng vươn lên đứng thứ 2 về tổng thể, chỉ sau Đại học Quốc gia Hà Nội . Điều này có được là do thành tích vượt trội về công bố quốc tế, phản ánh thành quả của chính sách khuyến khích các tác giả trong và ngoài nước tham gia hợp tác để có ấn phẩm quốc tế đứng tên trường . Một trường khác là Đại học Duy Tân cũng có những đầu tư bài bản để vươn lên thứ hạng cao (9), chủ yếu là nhờ thành tích trong công bố quốc tế (thứ 3).

Các trường đại học thuộc khối kinh tế có tiếng đều có xếp hạng trung bình – mặc dù các cơ sở giáo dục đại học này đều có điểm thi đầu vào luôn thuộc top 10-30% của phổ điểm, sinh viên năng động, ra trường dễ kiếm được việc làm và được nhà tuyển dụng đánh giá cao. Trường Đại học Ngoại thương chỉ đứng ở vị trí giữa (thứ 23), cao hơn một chút so với các trường cùng ngành khác là trường Đại học Thương mại (thứ 29), trường Đại học Kinh tế Quốc dân (thứ 30) và Học viện Tài chính (thứ 40). Nguyên nhân chủ yếu là sự hiện diện của các trường này trên các ấn phẩm khoa học quốc tế còn mờ nhạt, đồng thời có thể quy mô đào tạo lớn hơn so với năng lực đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ (đo bằng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trên sinh viên). Đó là những rào cản và thách thức cho những nỗ lực cải cách của các trường này trong thời gian tới.

Bức tranh trên cho thấy: Các đại học lớn và lịch sử lâu đời đều có vị trị cao hơn trong bảng xếp hạng này. Tuy nhiên, các đại học trẻ hơn đang vươn lên ngày một mạnh mẽ nhờ sự đóng góp đáng kể đến từ đầu ra của nghiên cứu khoa học . Điều này cho thấy sự đúng đắn của việc đầu tư xứng đáng vào nghiên cứu khoa học. Các cơ sở giáo dục đại học lớn do đó không nên chỉ dựa vào ánh hào quang “truyền thống”, mà cần đầu tư bài bản và chiều sâu hơn nữa vào nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng giảng dạy, nếu như không muốn bị nhanh chóng bị vượt qua trong bối cảnh xã hội có nhiều đổi thay.