Năng lực nghiên cứu khoa học của cơ sở giáo dục đại học có quan hệ mật thiết với số ấn phẩm khoa học của trường. Công trình khoa học xuất bản trên các tạp chí quốc tế, chuyên ngành và có phản biện được sử dụng làm thước đo đánh giá trong nghiên cứu này. Chúng tôi giả thiết rằng ấn phẩm trên các tạp chí quốc tế uy tín và có bình duyệt theo chuẩn mực quốc tế là một thước đo độc lập, khách quan và có thể kiểm chứng được về năng lực khoa học ở trình độ cao của cơ sở giáo dục đại học trong nước. Thước đo nay đều được các bảng xếp hạng như THE của Tạp chí Times, ARWU của Đại học Giao thông Thượng Hải và WUR của tổ chức QS sử dụng.

Các tạp chí quốc tế hiện nay có tuổi đời và chất lượng rất khác nhau. Trong báo cáo này, chúng tôi sử dụng nguồn số liệu duy nhất là các tạp chí quốc tế thuộc danh mục ISI. Danh mục Danh mục ISI bao gồm nhiều các danh mục trích dẫn khoa học thống kê các tạp chí phản biện chuyên ngành uy tín thuộc nhiều nhóm ngành khác nhau, ví dụ như SCI, SCIE cho các tạp chí thuộc khối khoa học tự nhiên, công nghệ, toán học,… SSCI bao gồm các tạp chí khoa học xã hội, AHCI bao gồm các tạp chí xã hội nhân văn,…[1] Công cụ tìm kiếm của Web of Science (WOS)[2] được dùng để thống kê các bài báo xuất bản trên tạp chí quốc tế trên các tạp chí ISI này [3].

Chúng tôi cũng xin lưu ý răng thiên lệch trong đánh giá là điều không tránh khỏi của mọi bảng xếp hạng. Chẳng hạn, nhiều tạp chí uy tín trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn có thể không thuộc danh mục ISI do có các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa và địa phương [4]; hoặc nhiều tuyển tập trong các hội nghị quốc tế công nghệ thông tin uy tín có chất lượng tốt, với tỷ lệ nhận đăng bài thấp, khó không kém tạp chí khoa học khác.

Ngoài ra, tồn tại nhiều thước đo khác cũng phản ánh tốt chất lượng nghiên cứu khoa học của cơ sở giáo dục đại học. Chẳng hạn: công trình khoa học trên các tạp chí trong nước, báo cáo khoa học đăng trên tuyển tập hội nghị trong nước và quốc tế, ngân sách đầu tư cho nghiên cứu khoa học, số đề tài nghiến cứu khoa học các cấp[5], số lượng phát minh sáng chế trong nước quốc tế được đăng ký, số các công ty start-up/spin-off thành công[6], v.v… Tuy nhiên, chúng tôi không sử dụng các thước đo đó bởi các lý do sau:

  1. Thiếu số liệu tin cậy cho các thước đo này: các số liệu không có; hoặc có nhưng không đầy đủ ở tất cả các cơ sở giáo dục được khảo sát khảo sát; hoặc vì lý do nào đó không được công bố công khai; số liệu ấy chúng tôi không thể kiểm chứng độc lập được; hoặc/và
  2. Các thước đo ấy không phản ánh chất lượng theo chuẩn mực quốc tế, tiêu chí mà những người xây dựng mong muốn các cơ sở giáo dục đại học trong nước hướng tới.

Trong tương lai khi nguồn lực cho phép, chúng tôi sẽ cân nhắc thêm vào bảng xếp hạng này thước đo có giá trị phản ánh tốt và có khả năng thu thập được số liệu.

————————————————————-

[1] Tham khảo: http://thomsonreuters.com/products_services/science/science_products/a-z/web_of_science

[2] Địa chỉ tra cứu thông tin: https://apps.webofknowledge.com

[3] Hiện nay có hai cơ sở dữ liệu thống kê danh mục các tạp chí khoa học quốc tế có chất lượng được biết đến nhiêu hơn cả: WOS và Scopus. Bên cạnh chúng cũng còn nhiều cơ sở dữ liệu thống kê khác như Google Scholar, PubMed Central, ResearchGate, v.v.

WOS ra đời trước, lúc đầu được Viện các Khoa học về Thông tin (ISI) tổng hợp các tạp chí có từ 1945 đến nay, hiên nay được cập nhật bởi Clarivate Analytics. Danh sách này bao gồm các tạp chí thuộc danh mục SCI hay danh mục SCIE, nên hay còn gọi là các tạp chí ISI. Trong khi đó, Scopus được nhà xuất bản khoa học hàng đầu thế giới là Elsevier tổng hợp các tạp chí có từ 1960 đến nay.

Theo thống kê (http://guides.library.utoronto.ca/SOTL_journals_databases/SOTL_Databases), có 13074 tạp chí thuộc danh mục của cả hai cơ sở dữ liệu WOS và Scopus, 2811 tạp chí chỉ thuộc danh mục WOS so với 14069 tạp chí chỉ thuộc Scopus. Do đó, độ phủ của Scopus có thể xem là “rộng hơn”, trong khi đó WOS/ISI được xem là “chọn lọc” hơn và có tuổi đời lâu hơn.

[4] Ví dụ, các tạp chí có thể rất tốt xuất bản bằng tiếng Việt, nhưng do ngôn ngữ hoặc thiếu hợp tác với các nhà xuất bản chuyển nghiệp nên tạm thời không thuộc danh mục tạp chí ISI/Scopus.

[5] Tổng ngân sách thu được từ các đề tài nghiên cứu khoa học là một con số rất quan trọng vừa nói nên đầu vào cho nghiên cứu khoa học, và cũng phản ánh năng lực làm khoa học của các đơn vị, nhưng hầu như không thể tìm kiếm được các con số chính thức từ hầu hết các trường đại học ở Việt Nam.

[6] Số lượng các phát minh sáng chế và công ty spin off công nghệ cũng là dữ liệu quan trọng nói lên đầu ra của nghiên cứu ứng dụng nhưng cũng là dữ liệu không phổ biến ở Việt Nam. Hơn nữa nó lại là không khả thi đối với các đơn vị không thuộc ngành khoa học công nghệ.