Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: trình độ và năng lực của đội ngũ giảng viên, năng lực lãnh đạo và quản lý của ban điều hành trường, chất lượng khung chương trình giảng dạy, không gian lớp  học, thời gian đầu tư cho việc học tập và phương tiện thực hành, tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm, v.v. Các nghiên cứu trước đây (ví dụ: Rauhvargers 2011) đã chỉ ra rằng: rất khó để đo lường một cách trực tiếp chất lượng giáo dục và đào tạo. Thay vào đó, các bảng xếp hạng buộc phải dùng các thang đo có tính đại diện gián tiếp (proxy) liên quan đến chất lượng và số lượng giảng viên cũng như sinh viên.

Ở Việt Nam, đội ngũ giảng viên và nghiên cứu viên có trình độ tiến sĩ trên tổng số cán bộ giảng dạy chiếm tỷ lệ thấp, kể cả so với các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Malaysia, nơi trình độ tiến sĩ là yêu cầu tối thiểu bắt buộc với đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu tại đại học. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra chất lượng giảng viên có quan hệ rất mật thiết với chất lượng sinh viên được đào tạo (Zuzovsky 2009; Turner 2011; Hanapi and Nordin, 2014; Nilsen and Gustafsson, 2016).

Trong báo cáo này, chúng tôi giả thiết rằng đại học sẽ có chất lượng giáo dục và đào tạo tốt hơn nếu như có nhiều cán bộ nghiên cứu và giảng dạy có trình độ tiến sĩ trở lên (tiến sĩ, tiến sĩ khoa học). Do đó, số lượng cán bộ giảng dạy và nghiên cứu có trình độ tiến sĩ được dùng làm một thước đo về chất lượng giáo dục. Thước đo này có thể được áp dụng bằng cách sử dụng con số cơ học (quy mô) hay tính theo tỷ lệ sinh viên (chất lượng). Số lượng giảng viên này phải là cơ hữu – không tính những người thỉnh giảng, trao đổi hợp tác và hợp đồng ngắn hạn.

Chúng tôi cũng giả thiết rằng cơ sở giáo dục đại học sẽ có chất lượng tốt hơn nếu có khả năng thu hút và đào tạo được nhiều sinh viên giỏi. Sẽ rất phù hợp nếu như có những thống kê, khảo sát về tiến bộ của sinh trong quá trình đào tạo và sự thành công sau khi ra trường. Tuy nhiên, những số liệu này rất thiếu (thống kê, khảo sát) hoặc không đáng tin cậy. Ví dụ, các con số tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm tự công bố bởi một số cơ sở giáo dục đại học, trong khi ở một số nơi khác, con số này không được phổ biến công khai. Ngoài ra, cũng như khó xác định được tính chính xác của các con số tự công bố này. Hay hiện chưa có nghiên cứu quy mô đo lường cảm nhận của sinh viên và chuyên gia về chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học. Do đó, ở thời điểm hiện tại, chúng tôi chưa sử dụng các nguồn thông tin trên  trong đề án này [1].

Trong báo cáo này, chúng tôi giả thiết rằng sinh viên có khả năng tự nhận biết cơ sở giáo dục tốt để theo học, giúp tăng cơ hội việc làm và triển vọng nghề nghiệp khi ra trường. Đặt trong bối cảnh cung cầu điều này sẽ dẫn tới những trường có điểm chuẩn cao hơn ở góc độ nào đó sẽ có chất lượng cao hơn, đồng thời do tính chọn lọc, sinh viên trường đó sẽ có năng lực tiếp thu kiến thức và khả năng làm việc sau khi ra trường tốt hơn. Do đó, số lượng đang theo học và chất lượng thi đầu vào của sinh viên được dung làm thước đo thứ hai trong đánh giá chất lượng giáo dục và đào tạo.

———————————————

[1] Tiêu chí này có thể được sử dụng trong các bản báo cáo trong tương lai khi các số liệu này có thể được công khai đầy đủ và chính xác ở nhiều cơ sở giáo dục đại học.