Chúng tôi tiến hành xếp hạng cho 49 cơ sở giáo dục đại học trong cả nước. Danh sách bao gồm 5 đại học cấp quốc gia và cấp vùng, 5 học viện và 39 trường đại học công lập và tư thục. Chúng tôi không đưa vào trong danh sách này cơ sở giáo dục thuộc khối an ninh, quân đội, chính trị (Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện Quốc phòng, v.v..), các cơ sở giáo dục đại học mới thành lập, một số trường liên kết với nước ngoài, một số cơ sở giáo dục đại học địa phương, chủ yếu vì thiếu số liệu đáng tin cậy. Ngoài ra, chúng tôi chưa xếp hạng các trường cao đẳng hoặc tương đương.

Trong năm đầu tiên làm báo cáo xếp hạng này, chúng tôi chỉ tập trung xếp hạng một số chọn lọc các trường có đầy đủ thông tin. Điều này hoàn toàn không đồng nghĩa với việc những trường ngoài danh sách có chất lượng kém hơn những trường được đưa vào bảng xếp hạng năm nay. Chúng tôi mong rằng những năm tiếp theo, các trường công bố nhiều thông tin đầy đủ hơn để chúng tôi có nhiều thông tin hơn trong đánh giá và xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học, để bảng xếp hạng có thể bao gồm đầy đủ các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam.

Chúng tôi coi mỗi đại học quốc gia (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) là một cơ sở giáo dục đào tạo thống nhất, nơi các trường đại học thành viên là một bộ phận. Do đó, chúng tôi không xếp hạng các trường đại học thành viên, mà chỉ xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học quốc gia. Tương tự như vậy, các đại học vùng (Đại học Thái Nguyên, Đại học Đà Nẵng, Đại học Huế, v.v..) được xếp hạng thay vì các trường thành viên của các đại học này. Số liệu được sử dụng bởi thế sẽ là con số thống kê tổng hợp của đại học quốc gia hoặc vùng. Trong trường hợp số liệu đó thiếu, chúng tôi sẽ tổng hợp bằng cách cộng gộp từ các trường thành viên.

Số liệu đầu vào được lượng hóa từ các nguồn khả tín nhất mà chúng tôi có được. Khi thu thâp thông tin, ngoài việc thông tin được lưu lại chúng tôi còn lưu lại cả nguồn thông tin để đảm bảo có thể kiểm chứng trực tiếp. Nhờ đảm bảo công khai số liệu thu thập được và có so sánh, kiểm tra chéo với các trường [1], chúng tôi hy vọng hạn chế tối đa sai sót trong khảo sát, lấy mẫu, qua đó tránh thiên lệch, khách quan, thiếu minh bạch cũng như đầu tư nguồn tài chính lớn.

Vấn đề lớn nhất khi triển khai dự án này là lựa chọn tiêu chí đủ tốt trong khi vẫn khả thi trong thu thập số liệu. Tuy nhiên chúng tôi vẫn gặp phải vấn đề thiếu số liệu chính xác. Các nguyên nhân dẫn đến thiếu số liệu có thể kể đến như:

  1. Số liệu cần tìm (cho tiêu chí nào đó) ở cơ sở giáo dục đại học không có ở một năm, hoặc ở tất cả các năm;
  2. Số liệu thống kê mâu thuẫn giữa các bộ số liệu của bản thân trường (công bố tại các thời điểm khác nhau, với các trang web khác nhau), hoặc với các cơ quan khác (ví dụ: Bộ Giáo dục & Đào tạo, cơ sở dữ liệu khoa học, v.v..);
  3. Số liệu các trường có thể công bố ở đâu đó, nhưng (vì lý do nào đó) những người thu thập số liệu không tiếp cận hoặc tìm thấy được;
  4. Số liệu có thể được tiếp cận, nhưng người thu thập số liệu không tìm đủ. Ví dụ: bài báo khoa học công bố trên tạp chí quốc tế cho Đại học Quốc gia Hà Nội, tên sử dụng không thống nhất dẫn đến việc tìm bằng từ khóa bị sót, bao gồm: VNU, VNU University of Sciences HUS, HUS College of Science, thậm chí cả tên tiếng Việt không dấu “Dai hoc Khoa hoc Tu nhien” khi chúng tôi phát hiện ra bài ghi tên trường theo cách này (Huy and Minh, 2001), v.v…

Trong báo cáo này, chúng tôi triển khai thu thập số liệu của các cơ sở giáo dục đại học trong năm 2016. Nếu thiếu số liệu cho năm 2016, chúng tôi sẽ sử dụng số liệu năm có số liệu trước đó. Đối với một số tiêu chí, do thiếu số liệu của các trường, chúng tôi mở rộng số liệu thu thập đến các năm 2015, 2014 và 2013 và cố gắng đề xuất một số ước lượng chấp nhận được. Ví dụ, Đại học Quốc gia Hà Nội thử nghiệm kỳ thi tuyển sinh đánh giá năng lực riêng mà không lấy điểm thi đại trà làm cơ sở xét tuyển 2016. Chúng tôi  buộc phải dùng thống kê về tương quan vị trí của điểm thi đầu vào trung bình của Đại học Quốc gia Hà Nội năm trước đó khi so sánh trong phổ điểm cả nước cho từng môn thi và khối thi, và coi đó vị trí xếp hạng của trường trong tương quan của năm 2016.

Với những trường bị thiếu số liệu ở một chỉ số cho năm nào đó, chúng tôi cũng áp dụng biện pháp tương tự: tính vị trí tương đối của trường đó so với các trường khác ở những năm có số liệu, sau đó nội suy để có được giá trị của năm cần tìm. Với những trường thiếu số liệu với chỉ số nào đó ở tất cả các năm, chúng tôi xếp vào vị trí cuối bảng, sử dụng số liệu của trường gần nhất có số liệu ở trên. Những năm tiếp theo khi có đủ số liệu, chúng tôi hy vọng sẽ không phải áp dụng những giả thiết khó khăn này.

Chúng tôi xin lưu ý rằng trong quá trình thu thập và tổn hợp số liệu, ở bước cuối chúng tôi đã gửi các thông tin tổng hợp này cho các cơ sở giáo dục đại học. Khi các cơ sở giáo dục phản hồi và cung cấp thông tin hiệu chỉnh, chúng tôi sẽ cân nhắc sử dụng nguồn thông tin mà các cơ sở cung cấp. Đối với các cơ sở giáo dục đại học không phản hồi hoặc từ chối chia sẻ số liệu, chúng tôi sẽ sử dụng số liệu mà chúng tôi tự thu thập được.

———————————————

[1] Chúng tôi xin cảm ơn nhiều cơ sở giáo dục đại học đã rất tích cực trong việc phản hồi về số liệu mà chúng tôi thu thập được.