Các nguyên tắc xây dựng bảng xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được chúng tôi áp dụng là: phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam, định lượng, khả tín, khách quan và hướng tới chuẩn mực quốc tế.

Để đảm bảo bảng xếp hạng phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, các thước đo được đề xuất phải khả thi trong việc thu thập số liệu, đồng thời phản ánh sự khác biệt về lượng giữa các cơ sở giáo dục được xem xét. Chẳng hạn, chúng tôi không áp dụng tiêu chí về số giải Nobel và giải Fields giành được, hay số các bài báo đăng trên các tạp chí Nature và Science để xếp hạng như ARWU sử dụng. Bởi điều này sẽ không có tác dụng phân tầng giữa các cơ sở đại học với nhau, khi chúng ta không có giải Nobel, hay số công trình của các nhà nghiên cứu tại đại học trong nước được đăng trên tạp chí hàng đầu rất ít.

Để đảm bảo yêu cầu định lượng, việc xếp hạng hai trường cụ thể đều dựa vào bộ số liệu cụ thể của các cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng. Chúng tôi mạnh dạn loại bỏ hơn một nửa cơ sở giáo dục đại học (trong tổng số hơn 100 trường được khảo sát) vì thiếu dù chỉ một phần số liệu mà chúng tôi cho rằng sẽ ảnh hưởng đến kết quả xếp hạng.

Để đảm bảo tính khả tín, chúng tôi cố gắng cẩn trọng tối đa trong quá trình thu thập và phân tích số liệu, dẫu biết rằng sai sót với dự án phức tạp này là không tránh khỏi . Chúng tôi công khai và thường xuyên cập nhật báo cáo này, cũng như sẽ cân nhắc chia sẻ dữ liệu thô đã tổng hợp phục vụ cho việc nghiên cứu đánh giá.

Để đảm bảo tính khả tín, chúng tôi cố gắng cẩn trọng tối đã trong quá trình thu thập và phân tích số liệu, dẫu biết rằng sai sót với dự án phức tạp này là không tránh khỏi [1]. Chúng tôi công khai và thường xuyên cập nhật báo cáo, cũng như sẽ chia sẻ dữ liệu thô đã tổng hợp phục vụ cho việc nghiên cứu đánh giá.

Để đảm bảo sự khách quan, chúng tôi không chịu sự ràng buộc với bất kỳ cơ sở giáo dục nào được đánh giá, không nhận tài trợ từ phía họ, cũng như không chịu một tác động bên ngoài nào trong quá trình xây dựng tiêu chí xếp hạng.

Khi bộ tiêu chí được đề xuất trong xếp hạng, chúng tôi có mong muốn khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học minh bạch hơn nữa trong công bố thông tin về đơn vị mình, đồng thời đẩy nhanh quá trình đổi mới theo hướng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Chẳng hạn, khi đánh giá các cơ sở giáo dục, chúng tôi không tính các bài báo khoa học trên các tạp chí trong nước vào tiêu chí xếp hạng nếu như các tạp chí này không nằm trong danh mục ISI [2]. Thay vào đó, chúng tôi sử dụng thông tin về số lượng các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế có chất lượng làm thước đo đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học của trường [3]. Một số tạp chí của Việt Nam cũng đã có mặt trong các danh mục này, và đương nhiên các bài báo đăng trên các tạp chí này đều được tính trong xếp hạng của chúng tôi.

Những nguyên tắc ấy được hình thành và sử dụng xuyên suốt trong quá trình xây dựng bảng xếp hạng, bao gồm: thu thập số liệu, đưa ra các giả thiết và chấp nhận hạn chế, lựa chọn các thước đo về nghiên cứu khoa học, về giáo dục đào tạo và về cơ sở vật chất và quản trị hay thiết lập bộ tiêu chí với trọng số tương ứng.

————————————————-

[1] Sau khi thu thập và tổng hợp số liệu xong, chúng tôi gửi số liệu mà chúng tôi thu thập được của các trường để kiểm tra và xác minh. Nhiều trường hợp, chúng tôi không nhận được sự phản hồi, nhưng cũng có rất nhiều trường đã chia sẻ thông tin, giúp đỡ chúng tôi xác minh lại số liệu một cách chính xác hơn.

[2] Có hai lý do cho việc này. Thứ nhất, theo chúng tôi biết ở Việt Nam chưa có một cơ sở dữ liệu công khai nào về các ấn phẩm, tạp chí khoa học trong nước dưới dạng điện tử để người dùng có thể tra cứu các nghiên cứu đã xuất bản. Thứ hai, chúng tôi cho rằng muốn nâng cao chất lượng nghiên cứu, việc hướng các công trình của mình đăng trên những tập san khoa học quốc tế có chất lượng là điều nên khuyến khích, cũng là một trong những mục tiêu của chúng tôi khi xây dựng bảng xếp hạng này.

[3] Khái niệm “tạp chí khoa học quốc tế có chất lượng” bao gồm các tạp chí chuyên ngành (peer-reviewed journals) được liệt kê trong các danh mục của ISI và Scopus.